Bà Sơn Điền nói, "Bình hoa phải cắm lại ngày mai đấy."
Bình hoa trên bàn thờ hướng ra ngoài vườn. Ở cuối phòng ăn là những chòi liễu và nụ mai tựa nghiêng vào một bát hương nhỏ. Ngày hôm qua Dục Thủy đã đặt một con cóc bằng đồng bên dưới cây mai rủ cành. Nhưng không được đặt quá ba vật bên bình hoa. Thân phụ nàng đã mời một giáo sư giỏi nhất trong thành phố dậy nàng cách cắm bình hoa. Ông thầy ấy là một người goá vợ, gầy gò nhỏ bé, sống với gia đình con trai trong một căn nhà nhỏ bên bờ sông.
Dục Thủy trả lời, "Ngày mai con sẽ cắt hoa anh đào."
Ông bố trả lời, "Nếu có hoa anh đào thì phải thêm một chậu hoa hồng."
Bầu không khí có vẻ khó khăn nay đã bình tĩnh trở lại. Dục Thủy không nói gì nữa. Nàng tỏ ra chăm chỉ xới cơm cho cha mẹ và tránh né sự bực mình của cha mẹ bằng cách im lặng. Nếu anh nàng còn sống, nàng sẽ chia xẻ với anh cái gánh nặng được cha mẹ quá yêu quý. Với anh, nàng cũng chia xẻ những kỷ niệm ở bên Mỹ. Anh nàng chắc sẽ mời nàng sang chơi, bởi vì nếu còn sống thì anh nàng đã kết hôn với hôn thê rồi. Hôn thê của anh nàng sau khi để tang một thời gian, đã lấy chồng và không còn nghe ai nói đến nữa. Hôn thê của anh nàng là con một mục sư Thiên chúa giáo trong khi gia đình nàng theo đạo Phật. Nếu anh nàng còn sống thì hôn lễ sẽ là một sự phiền phức, vì hai gia đình khác tôn giáo sẽ không chịu nghi lễ của đạo khác. Nhưng tới ngày cưới thì anh nàng đã tử trận, gia đình vị mục sư ở trong trại tập trung tại sa mạc Arizona, trong khi gia đình bác sĩ Sơn Điền ở Nhật Bản. Không ai trong gia đình nhắc tới ngày cưới nữa, nhưng Dục Thủy biết cha mẹ nàng vẫn còn nhớ, và nàng một mình ra vườn, nấp sau một tảng đá lớn và khóc thương anh.
Bác sĩ Sơn Điền bỗng lên tiếng, "Thạch Sĩ Mạc Sầu mời ta dùng trà chiều naỵ Ông ta mời cách đây năm ngày." Ông đã ăn xong và đang nhấm nháp trà xanh mà ông rất thích.
Thạch Sĩ Mạc Sầu là một bệnh nhân giầu có nhất của ông. Ông ta có một cái túi mật rất bướng bỉnh cần phải cắt bỏ. Ông ta chưa già lắm, và có ba con trai, một người bị cầm tù tại Nga sô, người thứ hai tử trận tại Trung hoa trong trận tấn công vào Nam Kinh, và người con thứ ba là một thanh niên còn trẻ. Người con thứ ba làm ông ta vui, bởi vì ông ta tin rằng không còn chiến tranh nữa, và có thể giữ được một đứa con trai. Theo Hiến pháp mới của Nhật thì Nhật sẽ không bao giờ tái vũ trang. Đây là điều yêu sách của quân Mỹ chiến thắng. Vì thế Thạch Sĩ Mạc Sầu tuôn hết lòng yêu thương và tiền bạc cho người con thứ bạ Ông đã phí công dậy dỗ hai người con lớn, vì cuối cùng cả hai đều bị bắt bưộc phải trở thành lính và đã chết trong cuộc chiến tranh rộng lớn do giới cầm quyền lúc ấy chủ trương. Nhưng bây giờ Hoà Lang, người con thứ ba, đang học tại đại học Đông Kinh.
Mạc Sầu là một gia đình lâu đời, và chi nhánh tại Kyoto tuy không quan trọng lắm, nhưng lại bảo thủ nhất. Thạch Sĩ Mạc Sầu là người đầu tiên tiếp tục trà đạo sau khi chiến tranh chấm dứt. Bác sĩ Sơn Điền cũng dự định xây một trà thất trong một góc vườn xa và yên tĩnh, khi cuộc chiếm đóng của Mỹ chấm dứt và Nhật Bản được độc lập. Nhiều người Nhật tân tiến chế nhạo nghi thức trà đạo, nhưng bác sĩ Sơn Điền không tha thứ một thái độ như thế. Ông tin rằng điều quan trọng là làm sống lại những nghi thức cổ truyền càng sớm càng tốt để cho tinh thần Nhật Bản được hồi sinh. Trong một buổi trà đạo, sự suy ngẫm về nghệ thuật và thiên nhiên hoà nhập với sự giao tế xã hội và đồ ăn ngon miệng. Bữa trưa ông ăn rất ít bởi vì ông biết buổi chiều ông sẽ được thưởng thức một thực đơn bắt đầu bằng món cháo đậu, rồi tới các món cá, thịt rừng và rau, và chấm dứt với món cháo loãng và bánh ngọt. Còn có trà tươi đặc hương vị dịu, nấu bằng bột lá trà mềm nhất, trồng dưới những cây cổ thụ.
Sau nghi lễ kéo dài bốn giờ, ông hy vọng có thể nói chuyện riêng với chủ nhân. Nếu có cơ hội ấy, ông sẽ để ông già Mạc Sầu bắt đầu nói về những người con trai của ông tạ Khi chuyện ấy bắt đầu thì thế nào cũng dẫn tới đề tài người con trai thứ ba quý giá của ông ta, và chuyện này cũng hy vọng dẫn tới vấn đề Dục Thủy, đứa con gái đáng quý của ông.
Bác sĩ Sơn Điền và Dục Thủy không nói gì về những ý nghĩ trong đầu, và cả hai im lặng ăn xong bữa trưa. Người con trai thứ ba của nhà Mạc Sầu là Hoà Lang, đã tới tuổi lập gia đình. Đúng ra chàng hơn Dục Thủy hai tuổi. Trước kia hai ông bố có thể sắp xếp chuyện này, nhưng bây giờ họ không thể làm thế. Hai trái bom nguyên tử ném xuống Trường Kỳ và Quang Đảo đã phá hủy nhiều hơn là gạch ngói, súng đạn và con người. Bác sĩ Sơn Điền chưa nói với con gái về Hoà Lang, nhưng đã cho vợ biết Hoà Lang muốn lấy Dục Thủy, và Dục Thủy nên chấp nhận. Chuyện này người mẹ đã nhắc lại cho con gái. Dục Thủy suy nghĩ nhưng chưa quyết định được. Nàng cảm thấy bồn chồn, và không muốn nghĩ tới Hoà Lang.
Hiển nhiên nàng không ghét chàng. Không người con gái nào có thể ghét một thanh niên đẹp trai, học cao, nhiệt thành và tự tin. Nàng thường gặp chàng, không phải là do sắp xếp trước mà là tình cờ. Chàng theo học tại đại học Đông Kinh, nhưng về nhà vào dịp nghỉ lễ. Nàng mới gặp chàng trong hội hoa anh đào mấy tuần trước, một thanh niên cao lớn mắt nâu, rất hào hoa phong nhã. Nàng cảm thấy dễ chịu khi gặp chàng, bởi vì chàng đỏ mặt mỗi khi gặp nàng. Nước da chàng quá trắng, và trán cao nên rất dễ thấy chàng đỏ mặt. Nàng thích cái nét trong sáng của máu đỏ và da trắng của chàng, và nàng thẳng thắn khen bộ âu phục màu xám của chàng, khen một cách thành thực tự nhiên theo thói quen Mỹ của nàng. Mặc dù nàng thán phục chàng, nhưng nàng vẫn chưa yêu chàng. Nàng cũng rất ngạc nhiên nữa, bởi vì nàng đang rất muốn yêu. Trái tim nàng rung động và sẵn sàng. Nàng đang cần có một người đàn ông để yêu, và trở thành vợ người ấy. Tuy nhiên khi nàng nhìn Hoà Lang, trái tim bướng bỉnh của nàng tránh né chàng, và những khát khao trở nên nguội lạnh.
Nàng cố gắng không cọc cằn trong khi trả lời cái giọng nói dịu dàng của chàng và tránh nhìn đôi mắt to dài, ướt át tình yêu. Chàng có quyền gì mà yêu nàng một cách lộ liễu như thế, trong khi nàng chưa hề cho chàng một dấu hiệu khuyến khích?
Những ý tưởng chống đối ấy xung đột trong lòng trong lúc nàng tiếp tục im lặng ăn cho xong bữa và đứng dậy cúi đầu chào cha mẹ. Nàng phải trở lại trường ngay, vì đã hơi trễ rồi. Cha mẹ nàng chấp nhận sự cúi chào của nàng, và tiếp tục ngồi uống trà. Nàng trở về phòng riêng và thay bộ kimono, mặc quần áo đi học. Tuy nhiên lần này nàng không đội nón. Sợ má lại đỏ ửng lên, nàng cầm theo cây dù lụa màu lục để che mặt. Chiếc áo sơ mi sọc trắng và xanh may theo kiểu Mỹ, nhưng nàng không chắc con gái tuổi hai mươi tại Hoa Kỳ có còn mặc y phục như vậy nữa không. Hai cánh tay áo dài cài nút tận cổ tay, và chiếc váy dài tới quá bắp chân nàng. Cổ áo cao, nhưng hôm nay ngay vừa ra khỏi cổng, nàng đã cởi khuy cổ cho gió mát lùa vào cổ nàng.
Đường phố yên tĩnh khi nàng bước ra khỏi cổng vườn. Nàng nghĩ lính Mỹ đang lang thang khắp thành phố dể coi phong cảnh. Họ thường đến đây từ Đông Kinh và Osaka, để sống một ngày nghỉ lễ tại Kyoto, vì sách hướng dẫn du lịch của họ cho biết văn hoá cổ của Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn tại Kyotọ Nàng nghe nói các phi công Mỹ được lệnh không được tàn phá Kyoto, như người Nhật trước kia cũng không tàn phá Bắc Kinh. Cha nàng không tin Kyoto được tha bởi vì ông không tin người Mỹ hiểu văn hoá. Đôi khi ông phàn nàn, "Chúng ta bắt buộc phải lựa chọn giữa sự tàn ác của cộng sản và sự thô tục của Hoa Kỳ."
Nàng thường thích thú nhắc đi nhắc lại cha nàng là một người cực đoan, và biết rằng đây là lời buộc tội duy nhất nàng dám công khai lên tiếng và cha nàng cực lực phủ nhận. Nàng nghĩ ông chiến đấu tìm sự bình tâm; ông trừng phạt Hoa Kỳ vì đã gửi ông đi trại tập trung, và sự trừng phạt ấy là yêu mến Nhật Bản cùng với tất cả những phong tục cổ truyền. Tinh thần trà đạo thực là vô nghĩa, và cũng rất ngớ ngẩn khi những người lớn tuổi ngồi trang trọng trong một căn nhà nhỏ giữa vườn, nhìn lên không gian và chờ uống món cháo xanh nấu bằng bột trà! Cha nàng nói trà đó có nhiều sinh tố, và ngoài cái đẹp và ý nghĩa tinh thần ra, trà đó nuôi dưỡng cơ thể. Nàng không thích uống trà như thế. Mùa thu vừa qua, nàng cùng cha mẹ tới dự trà đạo tại nhà họ Mạc Sầu. Cuộc đàm đạo trang nghiêm chỉ tăng thêm buồn tẻ. Ông Mạc Sầu đọc một vài câu thơ hài cú, như thể ông sáng tác ra ngay lúc ấy, nhưng nàng biết ông đã phải khổ công tìm vần ghép chữ hàng giờ trước đó. Nếu lúc ấy nàng quen Hoà Lang thì nàng dã nói với chàng như vậy rồi.
Nàng bước đi ngoài đường, suy nghĩ như thế và rất đắc ý, suy đi nghĩ lại, vì nàng biết nàng sẽ không bao giờ dám nói lên những ý tưởng ấy. Ngay mẹ nàng cũng không dám nghe những ý tưởng táo bạo ấy. Nếu nàng nhất định đòi mẹ phải nghe thì bà ta sẽ lắc đầu, bịt tai và ngồi im lặng cho tới lúc Dục Thủy ngừng nói. Đôi khi nàng muốn hét to lên với mẹ, và kéo tay bà ra khỏi tai, nhưng nàng không dám làm thế. Có một cái vỏ cứng rắn Nhật Bản trên những nét Hoa Kỳ mềm dịu nhưng nóng hổi trong nàng. Nàng giống như một núi lửa, bên ngoài phún thạch nguội đã che kín, nhưng bên trong đang muốn sôi trào lên.
Nàng liếc quanh đường phố dưới ánh mặt trời, cây dù làm thành một vòng tròn di động cho nàng. Ngày hôm qua trời mưa, và hôm nay màu xanh của những cây già và những bụi gai góc, sự rực rỡ của hoa đỗ quyên nở khắp nơi trong công viên và trong vườn làm nổi bật mùa xuân. Nàng bước đi lặng lẽ, đầu ngẩng cao, thở không khí ngọt ngào của ban ngày. Sinh lực mạnh hơn lên trong máu huyết và thúc giục nàng. Nàng muốn chạy và giang hai cánh tay ra. Nàng thường chạy như thế hồi còn ở Hoa Kỳ, từng đám con gái chạy ào ào như thế, vừa chạy vừa giang tay ra như đôi cánh, trên những con đường rợp bóng cây, chạy như những con chim bay lên, cười vang dù chẳng có gì đáng cười. Nàng không bao giờ chạy như thế tại Nhật Bản, và nàng cũng không thấy con gái Nhật chạy, dù là con nít. Họ vụng về đi guốc hoặc những giầy da nặng nề, hoặc những đôi dép vải đế cao su.
Nàng tới cổng bệnh viện, bên ngoài là trường đại học. Chính tại đây nàng đã phải đứng chờ cho lính Mỹ đi qua hồi sáng. Nàng không nhìn lính Mỹ, chỉ thoáng nhìn sơ qua một lần vì tò mò. Họ trông giống nhau, tất cả đều cười đùa, trò chuyện huyên thuyên, xô đẩy nhau, lúc nào cũng cười đùa xô lấn, làm bộ như muốn đánh nhau. Người ta phải hỏi nhau, "Có phải người Mỹ chỉ là trẻ con không?"
Bên trên cổng bệnh viện là cây tử đằng hoa đang nở hoa. Những chùm hoa màu tím nặng như những chùm nho, lủng lẳng giữa đám lá xanh. Đây là mùa tử đằng hoa, hoa ngũ sắc và mẫu đơn, những loại hoa ưa thích của nàng. Cha nàng không thích hoa. Trong vườn nhà nàng, cái đẹp là vẻ đơn sơ của đá, thông và nước, chỉ có trúc xanh đem lại một vẻ dịu dàng. Mẹ nàng trồng hoa để dùng trong nhà trong khu vườn trồng rau, ngoại trừ một đám ngũ sắc ở mé bắc của căn nhà.
Như thường lệ khi nàng nghĩ đến cha, Dục Thủy cảm thấy một tình yêu hỗn độn lạ lùng, giữa những cảm nghĩ thán phục và bất mãn. Nàng thường ao ước không bao giờ phải lìa bỏ Hoa Kỳ. Cha nàng không hiểu và không muốn hiểu rằng làm một người đàn bà tại Nhật Bản khó khăn hơn làm một người đàn bà tại Hoa Kỳ. Khi nàng nghĩ tới những người con gái tại California, dường như họ là những hoàng hậu trẻ. Nhưng tại Nhật Bản, đàn bà không bao giờ là hoàng hậu. Họ chỉ là thần dân của đàn ông, hầu hạ, làm bổn phận của họ. Không bao giờ họ có thể là hoàng hậu, bởi vì cha nàng đã nói, khi nào người Mỹ không chiếm đóng nữa, nước Nhật Bản cổ sẽ trở lại. Lúc đó giới trẻ sẽ không hành động như hiện naỵ Lính Mỹ chỉ là khách trong nhà. Người ta bắt buộc phải cho trẻ con đôi chút tự do khi khách lạ có mặt, nhưng khi khách lạ ra về rồi, trẻ con sẽ bị trừng phạt.
Nàng thở dài và ngửi thấy mùi thơm thấm đượm của tử đằng hoa. Nàng dã tới cổng bệnh viện, và bỏ dù xuống. Có người đứng tại cổng, một thanh niên Mỹ, dong dỏng cao mặc quân phục. Người ấy đứng tựa vào tường, chân này gác tréo qua chân kia, tay bỏ túi quần. Nàng nhìn thấy người lạ và giật mình, trong lúc chàng cười với nàng.
Chàng lên tiếng, "Tôi đang chờ cộ"
Nàng rất đỗi ngạc nhiên đến không nói được. Nàng chăm chú nhìn chàng, miệng há ra vì ngạc nhiên. Chàng thanh niên tóc vàng, trẻ và rất đẹp trai. Phải, chàng đẹp trai. Mắt chàng xanh, nước da mịn màng và trắng mát, hàm răng trắng và đều, và cái miệng rất có duyên. Chàng trông tráng kiện khoẻ mạnh, hai vai rộng và bụng nhỏ.
Cặp mắt chàng cười tươi. Chàng nói, "Tôi chờ cô được không?"
Nàng đỏ mặt. Nàng nhìn chàng như thể nhìn một cái gì lạ lùng. Nhưng nàng không thấy chàng lạ lùng nên nàng nhìn chàng quá lâu như thế. Chàng đã gợi cho nàng tất cả những gì nàng đã quên, những chàng trai tại học đường ỏ California, những chàng trai nàng vừa bắt đầu chú ý khi cha nàng bất thình lình rời bỏ Hoa Kỳ vĩnh viễn. Giọng nói của chàng giống như giọng nói của anh nàng, những lời nói của người anh mà nàng vẫn tưởng nhớ.
Chàng thanh niên Mỹ nói tiếp, "Cô không nói tiếng Anh, phải không?"
Nàng bình tĩnh trả lời, "Tôi nói tiếng Anh."
Chàng thanh niên kính cẩn bỏ nón xuống. "Chưa bao giờ lời cầu nguyện của tôi được chấp nhận như thế này. Thực là quá nhiều."
"Cái gì quá nhiều?"
"Gặp được một người con gái Nhật biết nói tiếng Anh."
Nàng mỉm cười, "Tại sao ông muốn gặp tôi? Tôi chưa bao giờ trông thấy ông."
"Cô nhìn thấy tôi sáng nay, nhưng cô không trông thấy tôi. Nhưng tôi trông thấy cô, đứng dưới cái vòm hoa này. Đây là một cái vòm hoa phải không? Trong vườn nhà tôi ở Mỹ cũng có một cái vòm tử đăng hoa. Sáng nay tôi nhìn thấy nó bởi vì nó làm tôi nhớ đến mẹ tôi, và thấy cô đúng tại đó, trông... rất đẹp."
"Tôi đứng đó để tránh đường cho lính Mỹ đi quạ"
"Chúng tôi đi qua, nhưng tôi trở lại. Họ tiếp tục đi Nara trong chuyến đi du ngoạn. Chúng tôi được nghỉ phép. Tôi có thể đi Nara bất cứ lúc nào. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu tôi quay trở lại đây và chờ đợi đủ lâu thì sẽ gặp lại cộ"
"Tôi trên đường đi học về."
"Cô vẫn còn là một nữ sinh?"
"Tôi học đại học. Xin lỗi ông, tôi phải đi đây. Tôi sẽ bị trễ."
Chàng vẫn đứng đó, tay cầm nón và mặt trời chiếu xuống mái tóc vàng dợn sóng của chàng, một màu vàng nhạt, bởi vì mắt chàng xanh. Khuôn mặt chàng hơi gầy, cằm vuông và gò má hơi cao. Trông chàng rất sạch sẽ.
Chàng nói, "Tôi muốn làm quen với cộ" Giọng của chàng rất trầm to, nhưng chàng nói rất dịu dàng.
Nàng chỉ trả lời, "Tôi không thể. Xin lỗi ông, tôi phải đi đây."
Chàng gan lì, "Tại sao không thể?" Chàng tiếp tục đi bên nàng. Nàng cuống quýt trương cây dù lên. Nàng phải làm gì bây giờ? Nếu có ai trông thấy nàng với người thanh niên Mỹ này và bảo cho cha nàng biết, nàng sẽ phải chịu đựng cơn thịnh nộ của ông.
Nàng lên tiếng, "Xin ông đi đị" Nàng bước vội đi mà không liếc nhìn cái hình dáng cao bên cạnh.
Chàng không chịu bỏ cuộc, "Phải có một cách gặp một người con gái tử tế tại Nhật Bản. Có lẽ tôi đến thăm nhà cô, gửi danh thiếp, chào cha mẹ cộ"
Nàng kêu lên, "Không được, không được! Ông sẽ làm cha tôi tức giận lắm!"
"Tại sao?"
Nàng đãng trí trả lời, "À, bởi vì nó như vậy."