Dục Thủy kêu lên, "Ôi, cám ơn bác sĩ." Tất cả lòng cương quyết cứng cỏi của nàng mất hết trong sự ham muốn hoang dại. "Tôi không nên ở lại lâu, chỉ một đêm thôi."
Bác sĩ Wagner lập lại, "Xin mời cô tới. Đây là chìa khoá. Bây giờ cô đến đó một mình và tôi sẽ mang nó tới. Cô sẽ ngủ trong phòng ngủ tại đó, đã có cái nôi tôi mua cho nó, và tôi ngủ trên ghế dài trong phòng khách. Cứ ở hai ngày, và giữ lấy con trong hai ngày. Tôi rất bận ở đây. Hãy ở lâu hơn nữa nếu cô muốn."
"Nhưng làm thế nào bà - " Dục Thủy nhìn cái văn phòng đông bệnh nhân.
Bác sĩ Wagner trả lời, "Tôi đã thu xếp. Tôi có một bà hàng xóm rất tốt, tử tế, đã là một bà nội, nhưng không quá già, con cái lớn đi hết rồi. Bà ta sẽ coi chừng nó khi tôi đi làm. Như vậy được lắm. Những bà già là những người yêu trẻ nhất - chúng tôi biết trẻ con là ý nghĩa đích thực của đời sống, mối liên lạc giữa hôm qua và ngày mai cho chúng tạ Thôi bây giờ đi đi, và sẵn sàng ở với con cộ Tôi sẽ đem nó đến vào giờ ăn trưa."
Dục Thủy cầm cái chìa khoá từ bàn tay mập mạp. Nàng cúi đầu xuống trong một lúc, và áp má nàng vào bàn tay ấy, rồi bước ra ngoài, không thể nói nên lời. Nàng bước đi chầm chậm, cố gắng nghĩ những gì nàng sẽ làm. Nàng sẽ ôm đứa con, dẫu sao cũng là con của nàng và James. Nàng có thể ôm con, tắm rửa và cho nó ăn, và lúc nó ngủ nàng sẽ làm gì? Nàng có thể may cho nó một cái gì để mặc, những món quà nhỏ, mà có lẽ người đàn bà tử tế cứng cỏi này sẽ cất đi cho tới khi nó lớn, để nó biết mẹ nó yêu nó thế nào. Thế là nàng quay vào một cửa tiệm và mua những mẩu vải, kim và chỉ đủ màu đẹp đẽ, và với cái gói cắp nách, nàng bước lên xe buýt nhỏ và cuối cùng tới trước cửa căn nhà mà nàng nhận ra ngay, bởi vì căn nhà ấy trông giống bà bác sĩ. Nàng lấy chìa khóa, mở cửa và bước vào. Đây là nhà Lạc Nhị Nàng đứng nhìn quanh, không bao giờ quên cái ấn tượng của một căn phòng lớn, một nỗi cô đơn tại cái bàn, những bức tường đầy những tủ sách, và cái ghế bành cũ kỹ bên cạnh lò sưởi đầy trọ Một cánh cửa mở vào phòng ngủ. Nàng trông thấy một cái giường sắt cũ, rất sạch sẽ và một cái nôi mới, sơn màu xanh nhạt. Có những tấm vải và mền nhỏ chất đống trong cái nôi, và cái giường vẫn còn bừa bộn. Trái tim nàng lớn lên làm nàng nghẹt thở, nhưng nàng không khóc. Nàng cởi áo ngoài và nón, và bắt đầu làm giường, trải khăn và mền, và làm cái nơi nghỉ ngơi đầu tiên của Lạc Nhi.
Một tuần lễ thiêng liêng bắt đầu như thế.
Hai người đàn bà ở với nhau một tuần mới chia taỵ Lạc Nhi về nhà trong cánh tay bác sĩ Wagner, và đặt nó xuống cái giường mà Dục Thủy đã làm sẵn. Lúc đó là giữa trưa và trời nóng, nhưng trong nhà không khí mát mẻ. Dục Thủy đã mở chiếc quạt máy và đặt một chậu đá lạnh bên dưới. Nàng đặt thêm một chỗ thứ hai tại bàn ăn; nàng mở tủ lạnh và tìm thấy đồ ăn và làm một bữa ăn trưa, một bữa rau xà lách lạnh và một vài lát bánh mì nướng. Nàng cũng tìm thấy những hộp sữa và một bình sữa. Đây là đồ ăn của Lạc Nhi, nhưng nàng không biết làm đồ ăn cho nó thế nào. Rồi nàng lại cảm thấy vú đau tức. Nàng có thể cho nó bú sữa của nàng không?
Khi con nàng tới, nàng năn nỉ bà bác sĩ bằng mắt, với cử chỉ bàn tay đặt ở ngực, và cởi thắt lưng của chiếc áo choàng ngoài.
Bác sĩ Wagner nồng nhiệt nói, "Tội nghiệp quá, cho nó bú đi. Tôi sẽ làm khô nguồn sữa khi tới lúc. Bồng nó đị"
Thế là Dục Thủy, trong một niềm hạnh phúc hoang mang, ôm lấy Lạc Nhi, bước vào phòng ngủ và khép cửa lại, một mình nàng ngồi với con và cho nó bú sữa của nàng. Nó dường như thấy lạ nàng; nó ngậm đầu vú nàng, cái đầu vú mềm hơn là những đầu vú bằng cao su mà nó từng biết. Rồi bỗng nhiên nó hiểu và bắt đầu uống những giọt sữa thiêng liêng, đôi mắt to của nó nhìn mặt nàng. Nàng nhìn xuống đôi mắt ấy, cảm thấy một nỗi buồn đứt ruột. Nàng quá đau buồn đến nỗi bật khóc và nước mắt rơi xuống mặt con. Nàng dùng lòng bàn tay lau nước mắt, và tiếp tục nhìn nó, run rẩy với lòng yêu thương.
Sau khi bú no, nó ngủ luôn; nàng đặt nó lên giường. Nàng cúi xuống chiếc nôi, chăm chú nhìn khuôn mặt, bàn tay, hình dáng và đôi chân trần của nó. Nàng nhận thấy cái miệng giống James, cái vòng môi cong ngọt ngào, tuy thế cái cằm cứng cỏi từ chối sự ngọt ngào, cái cằm này giống cằm thân phụ nàng. Nhưng hai bàn tay giống tay nàng, và hai vai vuông vức giống một người nào đó chưa biết, vì vai nàng xuôi và vai James cũng không giống thế này. Rồi nàng trông thấy lông mi, dài và cong lên từ khuôn mặt Á Châu. Mắt của nó giống mắt Á Châu, bao bọc bởi hàng lông mi tây phương. Nhưng lông mi của ai? Không phải của James, nhưng chắc từ một tổ tiên nào đó của chàng, mà nàng sẽ không bao giờ biết tên, hàng lông mi tuyệt mỹ của một phụ nữ Mỹ đẹp đẽ, còn sống hay đã chết, mà nàng không bao giờ biết.
Cửa mở và bác sĩ Wagner bước vào; hai người đàn bà lặng lẽ đứng chiêm ngưỡng đứa nhỏ.
Cái tuần lẽ thánh bắt đầu như thế đó. Bởi vì một đêm và hai ngày chỉ là phần khởi đầu của sự cảm thông giữa ba người này. Cuối cùng Dục Thủy vắn tắt kể lịch sử cuộc đời của Lạc Nhị Khi nàng nói, nàng nhớ lại những điều nàng đã quên, hoặc có lẽ không để ý khi sự việc xảy ra.
Nàng kể, "Khi chúng tôi đứng với nhau dưới cây tử đằng hoa, có nghĩa là, bà biết khi lần đầu chúng tôi hôn nhau - "
Bác sĩ Wagner vội nói, "Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ hôn một người đàn ông. Chuyện gì xảy ra cho cổ"
Dục Thủy vừa nói vừa nhớ lại. "Chúng tôi cảm thấy không khí chuyển động, một làn gió nhẹ cuốn lên, mặc dù hôm ấy yên tĩnh và không có gió. Chúng tôi cảm thấy một sự hiện diện khác cùng với chúng tôi. Bà có tin rằng đó có thể là cái linh hồn chưa sinh ra của Lạc Nhi không?"
"Tôi không thể không tin."
Không phải chỉ mình Dục Thủy kể cho bác sĩ Wagner. Bà đã sống im lặng tại Hoa Kỳ trong sự hiện diện của những kẻ không thể hiểu đau buồn là gì, bởi vì họ không có đau buồn, những kẻ không bao giờ biết đến sự chết chóc bởi vì họ chưa bao giờ trông thấy cái chết của hàng triệu người vô tội, trẻ cũng như già, và bây giờ bà nói với Dục Thủy cái mà bà nhớ, và phải nhớ cho tới lúc trí óc của bà trở thành cát bụi.
"Cô nên biết thoạt đầu chúng tôi không thể tưởng tượng họ giết những trẻ con hai dòng máu. Không phải máu của cô, nhưng là máu của tôi hoà lẫn với máu người Đức. Họ nói chúng ta chỉ được có máu trong sạch thôi - như thể máu của con người không trong sạch ở bất cứ đâu! Cô ơi, máu cô không khác máu tôi. Chúng ta đổ ra cùng một loại máu đỏ, mặc dù tôi là một người đàn bà Do Thái xấu xí, và cô là một người con gái Á Đông trẻ và xinh đẹp."
Bà bồng Lạc Nhi trên lòng, váy bà căng ra giữa hai đầu gối, bà cố gắng bảo Dục Thủy tại sao Lạc Nhi là một sự chiến thắng của lòng tin của bà. "Đứa nhỏ này quá đẹp đẽ. Nó chứng tỏ những gì chúng ta đã biết, nhân loại lai giống có thể là superb. Cô có hiều superb là gì không? Có nghĩa là tuyệt đỉnh cao."
Lạc Nhi không có thời giờ ngủ trong cái nôi, trừ ban đêm khi cuối cùng mọi người bắt buộc phải ngưng nói chuyện để ngủ, bà bác sĩ thì sợ tay sẽ run vì mệt mỏi khi phải cầm dao giải phẫu ngày hôm sau, và Dục Thủy thì bởi vì nàng đang đau đớn vì tình yêu và mất mát. Lạc Nhi ngủ trong hai cánh tay ôm lấy nó, hai cánh tay dịu mềm, và hai cánh tay ngắn ngủi và mạnh mẽ. Nó ngủ khi được bồng đi lại trong phòng, khi nằm trên cái đùi rộng và êm ái, hoặc trên bộ ngực căng tròn vì sữa mà nó đang bú. Nó được bao bọc bằng tình thương. Nó được hai người tôn thờ, tất cả những ký ức đầu tiên giấu kín của nó, đủ để kéo dài suốt cuộc đời, của tình yêu và tình yêu và tình yêu. Nó là một đứa trẻ được chào đón nồng nhiệt nhất trên đời.
Và rồi tới ngày cuối cùng của tuần lễ, Dục Thủy sẵn sàng ra đi. Vào những ngày đầu tiên, nàng rất lo sợ cái ngày cuối cùng này, nhưng bây giờ chính tại đây nàng thấy mình sẵn sàng cho ngày cuối. Nàng sẽ không đem Lạc Nhi đi khỏi căn nhà này. Nó an toàn trong căn nhà này. Bên ngoài sẽ không có chờ đợi và chào mừng. Nhưng ở đây nó không có kẻ thù. Trái tim vĩ đại của người đàn bà này, một người đã trải qua những sự sống chết, không yêu ai cả, ngoại trừ tất cả nhân loại và Lạc Nhị Nó rất an toàn.
Bác sĩ Wagner khuyến khích, "Cô cứ ở lại đây đi. Chúng ta sẽ sống chung với nhau, cả ba chúng tạ Lương tôi đủ cho cả ba người."
Nhưng Dục Thủy không thể ở lại. Nàng nhấn mạnh, "Nó không còn thuộc về tôi nữa. Nếu tôi ở lại, một ngày nào đó nó sẽ hỏi về cha nó. Tôi không thể chịu đựng được nghe nó hỏi câu ấy. Tôi không thể trả lời. Xin để tôi đị"
Nàng cương quyết ra đi, cương quyết từ bỏ James ngay cả trong đứa con này; nàng đã trông thấy ở đứa con một vài nét làm nàng nhớ lại một vài nét trên mặt James, một hạnh phúc tươi cười nó làm tim nàng tan vỡ bởi vì hạnh phúc ấy chấm dứt quá mau lẹ.
Vì thế nàng lấy thuốc làm cạn sữa và bưộc chặt vú lại, nàng sẵn sàng ra khỏi nhà. Nàng sẽ đi San Francisco; Hoà Lang đang chờ nàng tại đó, và khi gặp chàng, nàng sẽ biết nàng phải làm gì. Nàng mang trong lòng một niềm bằng an, sự bằng an của tình yêu đã chấm dứt. Khi tới lúc phải ra đi, nàng ôm Lạc Nhi vào lòng. Hai bàn chân của nó mang đôi giầy nhỏ màu xanh và hồng nàng đã làm cho con, thêu những con bướm. Rồi nàng đặt con vào lòng bác sĩ Wagner và bước lùi lại, nàng chào bằng cách cúi đầu thật thấp theo kiểu Nhật Bản. Nàng nói, "Cám ơn bác sĩ. Cám ơn bác sĩ bây giờ và suốt đời tôi và suốt đời nó."
Ôm Lạc Nhi vào người, bác sĩ Wagner nói, "Có dịp xin trở lại."
Dục Thủy cúi đầu một lần nữa và lập lại, "Cám ơn bác sĩ." Nhưng nàng không nói điều nàng biết, rằng nàng sẽ không bao giờ trở lại. Món quà tặng của nàng là tận cùng rồi. Sẽ không có sự liên lạc giữa quá khứ và tương lai.
Đứa Con Hai Dòng Máu
Chương 15
Đứa Con Hai Dòng Máu Chương 15
Tại nhà ga xe lửa San Francisco, Hoà Lang đang đứng đợi. Chàng ăn mặc cẩn thận, tự cười mình khi ăn mặc như thế. Tuy nhiên chàng cũng cảm thấy thú vị khi ăn mặc chững chạc, và bất cứ cuộc đời nào là định mệnh của chàng, chàng cũng có thể chấp nhận được. Có quá nhiều ở ngoài tầm kiểm soát của chàng đến nỗi chàng cảm thấy sự thỏa mãn khi làm hoàn hảo những vấn đề nhỏ mà chàng có thể kiểm soát được. Chàng đã chọn mặc một bộ đồ may riêng cho chàng bằng lụa Sơn Đông màu kem, đúng cho một ngày nóng bất thường. Một làn sương mờ lảng vảng trên những ngọn núi xa, và có thể bò xuống bờ nước, nhưng lúc này mặt trời vẫn sáng rõ.
Xe lửa đúng giờ và chàng trông thấy Dục Thủy trước khi nàng trông thấy chàng. Nàng lại đẹp và mảnh khảnh như trước, và mặc dù trái tim chàng sôi nổi muốn gặp nàng ngay, chàng biết nên bày tỏ sự nóng ruột. Chàng hy vọng nàng đã bình phục khỏi cái kinh nghiệm yêu thương, nhưng sự mới bình phục không được quá nổi bật, và chàng phải để nàng mọi cơ hội từ chối chàng. Chàng lo lắng vì thiên lương của chàng, bởi vì chàng không thể hưởng được hạnh phúc này, trừ phi chàng cho nàng biết cái tin mà báo chí đã đăng tải kể từ khi hai người gặp nhau lần trước. Sau vài do dự, chàng quyết định không viết cho nàng về cái tin ấy, mà nên nói cho nàng biết, trong lúc hai người mặt nhìn mặt để có thể quan sát đôi mắt rạng rỡ ấy và bắt được ánh sáng hy vọng nhỏ nhất.
Chàng ngả nón ra và lặng lẽ lại gần nàng; chàng đưa tay ra như người tây phương. Hành động này ít gây chú ý hơn là cái cúi đầu chào kiểu Nhật Bản tại sân ga xe lửa.
Chàng gọi, "Dục Thủy."
Nàng chưa nhìn thấy chàng, nhưng nghe thấy tên nàng; nàng quay lại về phía chàng.
"Hoà Lang, anh thực là tử tế đến gặp tôi!"
Nàng khẽ cầm tay chàng rồi vội buông ra ngay.
Chàng trả lời, "Tôi tưởng chúng ta hiểu rằng tôi sẽ ra đón cộ"
Hai người bước đi sát nhau dọc theo sân ga, và đi qua nhà ga, người phu đi theo, mang hành lý cho nàng. Chàng không thể rời mắt khỏi khuôn mặt nàng. Nàng không xanh sao như chàng lo lắng. Nàng có vẻ bình tĩnh, trông có vẻ mạnh khoẻ, trên má nàng có một màu đẹp đẽ và dôi mắt đen của nàng hạnh phúc nhưng xa vắng. Nàng già hơn, im lặng hơn, nhưng đối với chàng, những đức tính này càng làm nàng đẹp hơn.
Chàng gọi một xe tắc xi và giúp nàng bước vào xe, và ngồi bên cạnh nàng. "Tôi đã dành chỗ cho chúng ta ăn trưa cùng với nhau." Chàng ngập ngừng nói, sợ rằng đã tự ý quyết định nhiều quá.
Nàng trả lời, "Như vậy vui thích lắm."
Chàng nói tên tiệm ăn cho tài xế, và ngồi ngả người về phía sau. Nàng ngồi hơi xa cách chàng, hai bàn tay đeo găng chắp lại trên chiếc xách tay bằng da nâu. Nàng mặc một bộ đồ nâu nhạt, rất đơn sơ, một áo viền đăng ten bên dưới, và một chiếc nón rơm nhỏ màu nâu. Nàng trông có vẻ Mỹ hơn là chàng nhớ lại, và chàng cảm thấy hơi khó chịu, cho đến khi chàng nhớ rằng chàng chưa bao giờ thấy nàng mặc âu phục cho đến bây giờ. Rồi chàng ngạc nhiên thấy rằng âu phục không làm giảm vẻ đẹp của nàng như đối với nhiều phụ nữ Nhật Bản khác. Nét mặt này chứng tỏ rằng nàng vượt được cái kinh nghiệm khó khăn ấy, và dáng người nàng trông rõ ràng dưới chiếc nón nhỏ.
Nhưng chàng không thấy có gì để nói. Tại sao chàng phải nói? Chàng không muốn hỏi một điều gì về đứa con. Chàng cũng không muốn biết đứa bé còn sống không, hoặc nàng đã giải quyết nó như thế nào. Đứa con ấy không có liên hệ gì với chàng hoặc với nàng bây giờ, trừ phi cái tin chàng sẽ kể cho nàng làm nàng đổi ý; chàng không biết tâm trí nàng thế nào.
Sau vài phút Dục Thủy quay nhìn chàng với một nụ cười nhẹ.
Nàng lễ phép dò hỏi, "Anh có khoẻ không?"
Chàng trả lời, "Khoẻ lắm."
"Ba má anh sao?"
"Họ cũng khoẻ lắm."
"Đó là một tin mừng."
Chàng nói, "Bây giờ cô trông rất mạnh khoẻ."
Nàng cười, "Vậy thì chúng ta đều khoẻ cả!"
May là nhà hàng ăn gần đó, và xe tắc xi tới nơi ngaỵ Chàng trả tiền, cho tiền thưởng rất hậu và hai người bước xuống xe. Chàng rất muốn khoác tay nàng như chàng trông thấy đàn ông Mỹ thường làm, nhưng chàng quá nhút nhát nên không dám. Chàng dẫn nàng vào nhà hàng, một nhà hàng ăn nhỏ nhưng mắc tiền, tại đó chàng dành sẵn một bàn và ra gọi món ăn. Đây là một nhà hàng ăn Nam Mỹ, đồ ăn đặc biệt vùng New Orleans. Chàng thích ăn tại một tiệm Nhật Bản với đồ ăn Nhật Bản hơn, nhưng chàng cảm thấy tốt hơn là đừng để ai để ý, cho tới lúc Dục Thủy cho biết ý định của nàng.
Bàn ăn ngay cạnh cửa sổ mở ra một quang cảnh rõ ràng của vịnh và khăn bàn trắng, muỗng nĩa bóng láng và chén đĩa rất sạch sẽ. Tất cả đều đúng cách, và trên bàn ăn là một bình hoa chàng mua, hoa cúc tây tím nhạt và hoa lantana màu trái tranh.
Chàng ngồi xuống chiếc ghế quá nhỏ đối với chàng, và lần đầu tiên chàng cảm thấy hạnh phúc và thoải mái. Chàng nói, "Bây giờ cô phải ăn những gì tôi đã gọi. Đấy là những món ăn Nam Mỹ ngon nhất. Nó khác hẳn với đồ ăn tại các nước Á Châu, tuy cay hơn đồ ăn của chúng tạ"
Nàng nói, "Tôi đói lắm rồi. Bây giờ tôi thèm ăn và không còn buồn nữa."
Nàng không còn buồn nữa là một tin vui, và chàng mỉm cười sung sướng. Rồi chàng nhớ lại cái tin của chàng mà vì lòng ngay thẳng, chàng phải cho nàng biết. Nhưng chàng chờ cho tới khi món xúp mang ra. Người hầu bàn bưng ra một chiếc thố bạc, không to lắm, hai cái chén và một cái môi. Khi xúp được múc vào chén, hai người nhìn nhau, chàng mời nàng bắt đầu và hai người cùng dùng món xúp mà không nói gì cả. Cả hai đã được dậy rằng người ta không đánh lạc hướng trí óc của chủ nhà hoặc khách vì đồ ăn ngon.