Chàng đứng dậy, quá bồn chồn không thể cố gắng ngủ được. Chàng khoác một chiếc áo choàng mà khách sạn Nhật nào cũng có sẵn cho khách dùng. Phong cách tao nhã bao giờ cũng là nét đặc thù tại Nhật Bản, và có lẽ đó là lý do tại sao chàng thích cái quốc gia này. Chiếc áo sợi rẻ tiền màu xanh và trắng được may rất đẹp. Chỉ khi nào người Nhật muốn cố gắng bắt chước tây phương thì phong cách tao nhã không còn nữa. Mẹ chàng có lẽ sẽ rất thích những đồ sứ cầu kỳ, những nét vẽ đẹp, lụa rất mềm mịn, và trên tất cả là căn nhà Nhật Bản. Hồi chiều bà Sơn Điền không cho chàng bước vào nhà, nhưng khi bà cúi đầu xuống, chàng đã trông thấy hết phòng này đến phòng khác, thắp sáng bởi mặt trời qua những cửa mắt cáo bằng giấy. Cái quang cảnh đẹp chấm dứt với khu vườn. Chàng đã trông thấy thác nước bạc trắng. Chàng chưa có cơ hội gặp được một người Nhật có học và văn hoá cao. Luật lệ nghiêm cấm không cho phép người Nhật vào khu vực dành riêng cho người Mỹ. Ngay trên xe lửa họ cũng không được phép ngồi chung.
Nhưng cái người con gái đứng dưới cây tử đằng hoa thuộc về một căn nhà như thế. Và tên nàng, Dục Thủy - chàng không biết đọc thế nào cho đúng, trừ phi nàng dạy chàng. Chàng không thể quên được khuôn mặt nàng, quá tinh khiết, quá xinh đẹp, đôi mắt tuyệt vời và môi dưới căng mọng. Chàng đã quen và thích mắt người Á Đông. Và nàng còn nói tiếng Anh giống như người Mỹ, mặc dù hơi khó khăn. Những âm nàng đọc và giọng của nàng thực là nhẹ nhàng. Nàng là người có giáo dục, và điều đó cũng bất thường quá. Những người con gái có văn hoá thường tránh né người Mỹ, và không cho người Mỹ cơ hội gặp gỡ. Nhưng Dục Thủy đã từng ở Hoa Kỳ. Dẫu sao nàng cũng hơi nhút nhát. Nhưng nếu nàng bạo dạn thì chàng đã không thích nàng.
Chàng đứng ở cửa mở ra một khu vườn rất nhỏ, có một cái hồ tắm nhỏ, chỉ bằng cái bồn tắm, và một vài cây lùn. Chàng tự hỏi chàng thích cái gì ở người con gái có tên là Dục Thủy này. Giả dụ chàng để mặc lòng ham muốn tình dục của chàng được tự do - có nghĩa là chàng không đè nén lòng ham muốn ấy - thì cuối cùng sẽ là gì? Chuyện tình này sẽ chẳng ra gì hết, mà chỉ là một chuyện tình rắc rối và đau lòng. Chàng nghĩ nàng không phải là một gái ca kỹ để cho người ta yêu rồi bỏ.
Đêm tối đen và im lặng. Đường viền mờ bên ngoài rặng núi đậm hơn bầu trời, nổi lên bên ngoài bức tường thấp. Chàng tới Kyoto để xem cái đẹp của lịch sử, nhưng chàng không thấy gì cả. Tại sao không để mặc như chàng đã dự định? Bây giờ không cần phải quyết định gì cả vào lúc gần sáng này. Đây là lúc không tốt để làm một quyết định, trong cái giờ phút buồn bã đè nén của ban đêm. Sáng mai khi thức dậy, chàng sẽ nghiên cứu cuốn sách hướng dẫn du lịch và làm một chương trình riêng cho chàng. Chàng có thể ở lâu bao nhiêu cũng được để nhìn cái đẹp của Kyoto, rồi chàng sẽ quay trở về Đông Kinh. Nếu chàng bận rộn, chàng sẽ quên cô gái. Hoặc nàng sẽ nấp tránh như những người con gái Nhật đàng hoàng khác.
Chàng cảm thấy dễ chịu sau khi quyết định như thế. Chàng lại nằm xuống và nhắm mắt lại. Bắp thịt chàng rãn ra thoải mái, xương chàng không còn chống lại cái giường cứng ngắc nữa, và chiếc mền trở nên nhẹ và ấm áp.
° ° °
Nếu ngày hôm sau mưa thì nàng sẽ dễ dàng ở nhà. Dục Thủy chỉ có một lớp toán thôi, cái môn nàng không thích. Nàng cũng cảm thấy hơi lạnh nữa, hoặc chính nàng tưởng tượng như thế, bởi vì nàng trằn trọc không ngủ được. Khi nàng thức giấc trước lúc bình minh, nàng thấy chiếc mền tuột xuống sàn nhà. Nàng ngủ với một chiếc gối mềm. Trước kia nàng thường dùng gối Nhật rất cứng, cổ nàng sẽ nằm đúng chỗ và không trở mình được nữa. Những người con gái khác học cách ngủ như vậy, nhưng nàng không. Đó là rắc rối của nàng, vì nàng không quyết định được có nên chấp nhận toàn thể cuộc đời ở đây không. Cha mẹ nàng, cả hai can đảm hơn nàng. Nghĩa là cha nàng đòi hỏi như thế, và mẹ nàng vâng lời. Vì lý do này, nàng vẫn giữ một sự phản kháng nhỏ bé, mà cái gối là một. Nàng phản đối cho cả mẹ nàng nữa.
Nhưng ngày hôm nay trời tốt, mặt trời nhô lên trên bầu trời quang đãng, và chỉ trên núi mới thấy một giải tơ hồng, và sẽ bị mặt trời làm tan đi. Nàng bắt buộc phải dậy, và vì ngày đẹp, nàng cũng bắt buộc mặc một chiếc áo mới, màu vàng nhạt. Có một vài lý do nàng muốn mặc áo kimono ngày hôm nay, nhưng các bạn học của nàng sẽ ngạc nhiên.
Chiếc áo vàng thì nhẹ nhàng và không có những nút áo cứng màu trắng. Một chiếc vòng cổ nhỏ thêu trắng làm cho mái tóc đen của nàng nổi bật. Nàng không xức dầu lên tóc, như người khác. Một vài sợi tóc mềm phất phơ bên thái dương, không uốn lên nhưng cũng không thẳng.
Cha nàng nhìn nàng khi nàng bước vào phòng ăn.
"Con sẽ không đi học như giờ thường lệ. Con sẽ đến sớm để con có thể học hình học một giờ."
Ông hiểu là nàng muốn tránh không gặp người thanh niên Mỹ. Nếu hắn tìm kiếm nàng thì hắn sẽ đến đúng cái giờ hắn gặp nàng hôm quạ Ông trả lời:
"Nếu con đi sớm thì trời mát mẻ đấy. Hôm nay trời sẽ nóng hơn hôm quạ"
Mọi người im lặng ăn sáng. Mẹ nàng không nói một lời. Mọi người lặng lẽ đứng lên, và ngay lập tức Dục Thủy đi ra vườn để tìm hoa, lá và cành, bất cứ thứ gì của cây, để cắm vào bình hoa. Đây là một bổn phận, nhưng lại là một công việc thích thú. Cha nàng hay phê bình cái nàng đang làm, ít khi khen ngợi, để cho mỗi khi ông khen thì nàng sẽ coi trọng và nhớ lại như một cái gì đáng quý. Hôm nay, lang thang ngoài vườn, nàng tìm kiếm hoa và cành cây thích hợp nhất. Bây giờ là mùa xuân nên nàng không được dùng nhiều hoa. Hoa chỉ nở nhiều về mùa hạ, và những bình hoa phải phản ảnh đúng theo mùa. Nàng quyết định chọn hoa mọc lên từ đất khộ Nàng kiếm được cây tường vi màu xanh khuất sau một bụi dương màu tím. Nàng cắt một cành dương và một cành tường vị Nửa giờ sau nàng đứng trước bàn trong bếp, chuyên chú cắm hoa. Nàng phải cắm cành và hoa hướng về phía mặt trời. Nàng chăm chú làm việc, không biết cha nàng đang ngắm nàng từ phòng thiền, tại đó ông ngồi trầm tư trước khi đến bệnh viện làm việc. Mẹ nàng luẩn quẩn trong bếp cũng ngắm nhìn nàng nữa. Hài lòng trước bình hoa cắm xong, Dục Thủy thận trọng bưng bình hoa ra bàn thờ. Nàng ngó nhìn bức trướng. Đó là bức tranh cây liễu trong sương mù. Nhưng nàng thay đổi vật trưng bầy. Nàng chọn một miếng ngọc, khảm vào một khúc gỗ hồng. Rồi nàng bước lùi lại và ngắm toàn bộ bàn thờ.
Cha nàng khen, "Đẹp lắm rồi."
Nàng quay lại mỉm cười. Ông đứng đó, mặc âu phục, sẵn sàng đi làm. Ông trông mạnh khoẻ trong y phục bằng hàng vải cứng, chiếc nón dạ trong tay trái, bao tay, chiếc gậy và bộ quần áo ủi cẩn thận, tất cả đều đúng cách. Nhưng ông không hoàn toàn là người Nhật. Không người Nhật nào có thể mặc quần áo dễ dàng như thế. Chính ông đã làm cho ký ức của nàng về Hoa Kỳ sống mãi, nhưng nàng không bao giờ nói điều ấy ra.
Ông bố nói, "Trông vui mắt lắm. Ba không nghĩ tường vi màu xanh và màu đỏ của cành dương có hợp nhau không. Thế mà bình hoa của con trông rất hoà hợp. Thật là độc đáo. Và minh ngọc kết hợp tường vi và cành dương với cây liễu trong sương mù."
Ông gật đầu, khẽ mỉm cười và bước ra khỏi phòng.
Một ngày bắt đầu như thế. Nàng không cố ý tìm kiếm ai trên từng đường phố nàng đi qua, nhưng ít nhất nàng cũng thay đổi đôi chút. Nàng đến trường sớm, đi thẳng tới phòng học của nàng và bắt đầu chăm chú học bài. Môn hình học rất hữu ích để tâm trí nàng bận rộn. Nàng thận trọng vẽ những vòng tròn, nghiên cứu những tam giác bên trong vòng tròn, và tính các góc. Tất cả đều lạnh lẽo, trong cái cách đẹp đẽ nhưng vô hồn. Thủy tinh, đá hoá thạch, những hình thể đối xứng đều vô hồn và lạnh lẽo đối với trí tưởng tượng mau lẹ của một trái tim hào hứng. Nàng làm việc đều đặn, không ngẩng đầu lên, trừ trường hợp phải chào hỏi, và một ngày cứ thế trôi quạ Nàng tới những lớp học rồi bỏ đi, và cảm thấy xa cách. Đến cuối một ngày, nàng đi về nhà, hơi sớm hơn thường lệ. Đường phố vắng lặng. Nàng tự nhủ chắc là hôm nay chàng đã đi Nara để nhập bọn với bạn bè rồi. Không có lý do gì chàng không đi. Hiển nhiên là nàng sẽ không gặp chàng nữa.
Ngày hôm sau, nàng cảm thấy không được khoẻ. Đó là một buổi sáng lộng lẫy hơn trước, nhưng nàng thức dạy cảm thấy run lạnh và ngơ ngác. Nàng nằm lại trong phòng. Khi không thấy nàng đi ra, mẹ nàng sai Nhu Mị đến hỏi tại sao.
Dục Thủy nói, "Tôi cảm thấy buồn bã. Tôi nghĩ tôi bịnh."
Nhu Mị đem cái tin báo động ấy cho cha mẹ nàng, và hai người nhìn nhau.
Bà Sơn Điền nói với chồng, "Mấy hôm nay ông khó với nó quá." Lời trách nhẹ nhàng ấy nói bằng một giọng rất dịu dàng.
Bác sĩ Sơn Điền cãi lại. "Tôi không khó với nó. Hôm qua tôi có nói gì với nó đâu, trừ lời khen cắm hoa. Bà biết hôm qua tôi về rất trễ mà."
Bà Sơn Điền không đổi ý. "Tôi nói ngày hôm trước cợ"
Bác sĩ Sơn Điền nói dứt khoát. "Tôi và nó đồng ý với nhau mà. Hãy nhớ sáng hôm qua nó trông mạnh khoẻ như thế nào, và cắm hoa rất khéo. Nó hoàn toàn bình tĩnh mà."
Bà Sơn Điền nói, "Sáng nay hoa đã héo rồi. Ông hãy quan sát mà xem. Điều này có nghĩa là bàn tay nó bị nóng ngay từ hôm quạ"
Bà đứng dậy trong lúc nói, rồi bước đi, bước chân của bà im lặng trên tấm chiếu. Bà bước vào phòng Dục Thủy và đứng nhìn con gái. Hai bàn tay Dục Thủy để bên ngoài tấm mền, những ngón tay cong lên và không nhúc nhích. Bà Sơn Điền quỳ xuống và đặt ba ngón tay nàng trong lòng bàn tay bà.
"Con bị sốt đây mà, da của con khộ Mẹ sẽ cho ba con biết."
Dục Thủy than, "Ba sẽ cho con uống thuốc đắng."
"Nhưng thuốc ấy tốt cho con."
Bà đứng dậy và tiếp tục lo lắng nhìn khuôn mặt đẹp trên chiếc gối trắng. Bà ngọt ngào năn nỉ con, "Cho mẹ biết cái gì làm phiền con."
Dục Thủy thở dài, "Chẳng có gì cả. Đó mới là vấn đề - con cảm thấy trống rỗng, trống rỗng. Con không có một cảm giác gì."
"Thế thì tệ quá. Ở tuổi con cần phải cảm thấy một cái gì, ngay cả sự bất mãn."
Dục Thủy không trả lời và bà Sơn Điền bỏ đi, hoảng hốt nói với chồng, "Ông phải tới coi nó xem sao. Con nhỏ chẳng cảm thấy gì cả. Nó nằm đấy. Lòng bàn tay nó nóng. Nó không biết tại sao."
Bác sĩ Sơn Điền nói vắn tắt, "Vậy thì chẳng sao cả." Ông đứng dậy và bước ra khỏi phòng, dừng lại lấy túi y sĩ. Cái túi lúc nào cũng trật tự, sẵn sàng để dùng, ống đo nhiệt độ nằm trong lọ cồn, mọi thứ đều khử trùng rồi. Ông bước tới phòng con gái, khẽ gõ cửa và bước vào.
Ông dịu dàng nói, "Con không cảm thấy gì hả?"
"Chẳng thấy gì cả." Dục Thủy trả lời mà không nhìn ông.
Ông hỏi gặng, "Con không giấu ba cái gì phải không?"
"Chẳng có gì cả." Nàng nhắc lại.
Ông đặt ống đo nhiệt độ vào miệng nàng, và quỳ bên cạnh nàng, mắt ông nghiêm lại vì lo lắng. Ông hỏi cho rõ ràng, "Hôm qua con gặp người Mỹ ấy không?"
Không trả lời được, nàng lắc đầu.
Ông chờ đợi rồi lấy ống đo nhiệt độ ra. Nàng bảo ông, "Con không gặp ai cả. Con đến trường, ngồi học rồi về nhà."
Ông dò hỏi, "Con cảm thấy sự trống rỗng ấy từ bao giờ. Con không bị nóng sốt."
"Con thức giấc sáng nay và không muốn dậy nữa."
Vì thận trọng, ông không muốn bảo cho nàng biết cái điều ông đang suy nghĩ. Cái sự trống rỗng này là do nàng không gặp người Mỹ ấy ngày hôm qua.
Ông nói, "Tốt nhất là nằm yên nghỉ trong giường, nếu con cảm thấy như thế. Hãy ăn thật nhẹ, nên ngủ nếu con ngủ được, và đừng quấy rầy trí óc. Ba sẽ về ngay nếu con cần bạ"
"Cám ơn bạ"
Ông đứng dậy và tiếp tục nhìn xuống bộ mặt không khí sắc. Nàng không nhìn ông. Nàng để cho mí mắt nhìn xuống cho tới lúc nhắm lại. Mặt nàng xanh sao, vì thế một ngày nghỉ sẽ tốt cho nàng. Ông cầm túi đồ nghề lên và bước đi. Ông gặp bà vợ đứng bên ngoài chiếc cửa sổ mắt cáo. Ông bình tĩnh nói, "Nó không bịnh gì cả. Đó là sự mệt nhọc có lẽ do nồng độ của mùa xuân. Bà biết năm nay mùa đông tới trễ và bỗng nhiên thời tiết thay đổi. Thời tiết này bao giờ cũng làm mệt một người con gái như Dục Thủy, vì nó quá nhạy cảm. Tôi đã bảo nó phải nằm nghỉ trong giường."
Bà Sơn Điền nói một cách biết ơn, "Cám ơn. Bây giờ tôi biết phải làm gì."
Căn nhà rất lặng lẽ sau khi ông Sơn Điền ra đi rồi. Bà Sơn Điền thay những cây dương trong bình hoa, nhưng lại thay đổi cả chậu hoa. Bà đổ và rửa cái chậu hình chữ nhật, và cất đi. Bà đặt thế chỗ cái chậu là một bình hoa cao và đẹp, trong cắm một vài cành trúc, nhưng lá mới vẫn còn xanh tươi, và hai bông hoa trắng hình ngôi sao mọc dưới khóm trúc. Bà chưa bao giờ học cắm hoa, và rất ít khi cắm hoa. Nhưng bà thích cắm loại hoa đơn sơ này, nhất là khi không có chồng ở bên cạnh phê bình các khuyết điểm của bà.
Khi đã cắm xong, bà đứng ngắm nhìn bình hoa một lúc và Nhu Mị bước vào và nói, "Chúng ta không còn cá nữa."
"Mày nói gì? Hôm qua còn một con cá mà. Tao thả nó vào cái vũng nước nhỏ. Một con cũng đủ rồi."
Nhu Mị trả lời, "Con cá chết rồi."
Bà Sơn Điền kêu lên, "Không thể chết được!"
Nhưng vì một lý do nào đó, con cá chết thật rồi. Nhu Mị cầm con cá lên từ vũng nước nhỏ, chỉ to bằng một bình nước đào xuống bên cạnh nhà bếp, và dùng để giữ cá mới mua ở chợ về cho tươi và sống. Con cá nằm trong tay con ở, chết cứng, trương lên.
Bà Sơn Điền buồn rầu nói, "Đem chôn nó đi. Tao sẽ đi chợ và than phiền với người bán cá. Có lẽ ông ta nhồi cho cá ăn no để cá nặng thêm."
Chợ không xa nhà lắm, và Nhu Mị Ở nhà coi chừng Dục Thủy. Nhưng bà vẫn tới phòng Dục Thủy, bảo cho nàng biết bà đi chợ. Khi bà kéo tấm bình phong ra, Dục Thủy còn đang ngủ. Nàng nằm ngửa, mắt nhắm nghiền, thở bình yên. Bà Sơn Điền không dám đánh thức nàng. Bà dón dén bước ra, sung sướng thấy rằng dù Dục Thủy có rắc rối gì, nàng cũng không bị mất ngủ.
Bà bảo Nhu Mị, "Nó đang ngủ. Tao sẽ về ngaỵ"
Nhu Mị nói, "Chào bà chủ." Nó sửa soạn giặt quần áo bên trong vườn. Rồi sẵn sàng rửa cá khi bà chủ trở về.
Hôm ấy là một ngày đẹp. Ánh nắng bên trong vườn ấm áp, và Nhu Mị dạy sớm như thường lệ. Nó cảm thấy buồn ngủ khi giặt quần áo xong, và muốn nằm ngủ vài phút. Căn nhà quá yên tĩnh.
Nó có thể ngủ vài phút sau bếp lò, và không ai tìm thấy nó. Nếu bà chủ về bắt gặp thì nó sẽ nói nó ngồi đó đợi bà chủ để nhóm lửa. Thế là nó nằm xuống sàn nhà bếp, đầu gối lên một khúc gỗ và ngủ say sưa. Nó là một cô gái quê, mạnh khoẻ, lúc nào cũng sẵn sàng ăn hoặc ngủ, và khi ngủ, nó ngủ thật say và rất khó đánh thức dậy. Vì thế nó không nghe thấy tiếng gõ cửa trước. Cổng vườn không bao giờ khoá, và bà Sơn Điền chỉ khép cổng hờ thôi.
Dục Thủy là người bị đánh thức. Nàng ngủ lơ mơ và phòng nàng gần với cửa trước. Nàng nghe thấy tiếng đấm cửa, thoạt đầu là nắm đấm và sau đó là lòng bàn tay đập vào cửa, rồi đến tiếng chuông leng keng. Nàng thức giấc và lắng nghe, rồi lên tiếng gọi mẹ và con đầy tớ. Không ai trả lời. Tiếng đấm cửa mỗi lúc một to hơn. Nàng bắt buộc phải ngồi dậy, mặc chiếc áo kimono hồng, vuốt lại mớ tóc và đi ra cái cửa hẹp, để xem ai ngoài đó mà không bị người bên ngoài trông thấy. Nàng dón dén đi, và khi tới góc nhà, nàng nhìn qua khe cửa.