Chàng tiếp tục đọc chậm chạp, trông thấy thành phố quê nhà, những con đường quen thuộc, những khuôn mặt quen biết của hàng xóm và bà con. Tuy nhiên tất cả xa cách chàng quá khi chàng ngồi một mình tại Đông Kinh, như thể sống trong một thế giới khác. Đúng như vậy. Họ sống trong một thế giới khác, và chắc chắn họ không hiểu biết gì về cái thế giới này, mà thủ đô là Đông Kinh, Nhật Bản. Dù chàng giải thích thế nào, dù chàng làm thế nào, họ cũng vẫn không hiểu. Không có cách gì làm họ hiểu được. Sự lựa chọn duy nhất của chàng là chàng muốn sống trong thế giới nào - và với ai.
Chàng gấp những lá thư cẩn thận, và bỏ từng cái trở lại phong bì, và ngồi nhìn chiếc máy chữ.
Chỉ có cha chàng là không viết. Ông ít khi viết thư và cũng ít khi nói. Chàng biết cha chàng không bao giờ nói nhiều, và chàng không nhớ được gì. Đôi khi trong cả bữa ăn, ông chỉ nói vài lần, như "Đưa hộp butter cho ba," hoặc "Mình ơi, bánh bích quy này ngon."
Mẹ chàng trả lời, "Ông Peterson, tôi có thể nói ông ít khi được ăn bánh bích quy ngon!"
Cha chàng thường mỉm cười, và thì thầm bà vợ Ông nói đủ cho hai người rồi, và còn nói hay nữa, hay hơn ông có thể nói.
Chàng không cố hiểu cha, và cũng không thấy cần phải hiểu ông. Bây giờ chàng mơ hồ ao ước chàng hiểu cha nhiều hơn để chàng có thể viết cho ông về Dục Thủy, và hỏi ý kiến ông.
Nhưng hỏi cái gì?
Chỉ có một câu hỏi mà chàng cần tự hỏi. Chàng đã yêu nàng đủ nhiều để lấy nàng không? Có phải cái chàng cảm thấy, nỗi ao ước khôn nguôi ngày đêm, có phải là tình yêu đích thực không? Chàng biết chàng chưa bao giờ yêu. Nhưng hiện nay có phải chàng đang yêu không?
Chàng bỏ thư vào ngăn kéo bàn giấy, rồi đi tắm và ăn mặc chỉnh tề. Chàng được mời ăn tối với vợ chồng đại tá, một cặp vợ chồng đàng hoàng tư cách, không hiểu được những kẻ tuyệt vọng vui tươi và cẩu thả là những binh sĩ dưới quyền chỉ huy của ông tạ Trong bữa ăn tối lần trước bà đại tá than phiền, "Họ không đàng hoàng về bất cứ chuyện gì. Họ cư xử quá phóng túng dâm dật."
Chàng hiểu bà ta muốn nói gì. Chàng cũng hơi cảm thấy như thế. Đôi khi không thể hiểu người Nhật cũng là những người tàn sát người Mỹ không thương xót cách đây không lâu. Chàng dường như quên hẳn chuyện đó, mặc dù chàng cũng gánh phần chia xẻ của chàng trong trận chiến. Nhưng những con người nhỏ bé, tàn ác xông vào người Mỹ từ những rừng già trên những hải đảo, không còn liên hệ với những ngọn đồi xanh ngắt, những nông dân mặc quần áo xanh, những người con gái xinh đẹp mặc kimono trong những kỷ viện, và nhất định là không có liên hệ gì với Dục Thủy, một người Mỹ hơn là một người Nhật.
Khi chàng để tên nàng nổi lên trong tâm trí, tim chàng lại hồi hộp và chàng muốn vươn cánh tay ra như thể nàng đang đứng trước mặt. Chàng tự hỏi với đôi chút ao ước, có nên đặt vấn đề với đại tá khi chỉ còn hai người sau bữa ăn tối không. Bà đại tá là người tế nhị, và bà chỉ thường ngồi với khách khoảng ba mươi phút sau bữa ăn, và lúc đó chàng sẽ tự do hỏi ông đại tá.
Nhưng chàng không dám bộc lộ tâm tình. Sau bữa ăn tối rất ngon do đầu bếp Nhật nấu nướng, có một người bồi Nhật mặc áo trắng hầu hạ, chàng hỏi viên đại tá có bao nhiêu người Mỹ lấy vợ Nhật trong thời gian chiếm đóng. Viên đại tá trông có vẻ không vui. "Tôi nghĩ tôi có con số ở đâu đó. Tôi không muốn nhìn con số ấy. Anh muốn nói hôn nhân chính thức, hay chỉ là... "
"Tôi muốn nói đến hôn nhân."
Viên đại tá nói một cách hy vọng, "Chắc là không nhiều. Nếu là chuyện chơi qua đường thì ai biết được? Tôi nghĩ ngay cả hàng ngàn trẻ con lai cũng không đủ biết rõ sự thực là bao nhiêu. Tôi không hiểu tại sao binh sĩ của ta lại quá dâm dục. Chính tôi cũng phải ngạc nhiên, mặc dù tôi là một sĩ quan già."
Chàng có vẻ quá chú ý. "Số phận trẻ con sẽ ra sao?"
Viên đại tá có vẻ khó chịu. "Tôi không biết. Một phụ tá của tôi kể cho tôi biết vợ Ông ta tìm thấy một đứa trẻ giấu trong nhà một hàng xóm rất đáng kính trọng, chủ nhân là một thương gia. Vợ Ông ta bực mình vì ban đêm bị một đứa trẻ khóc quấy rầy suốt đêm. Bà ta tới điều tra và tìm thấy một đứa trẻ lai Mỹ bị bà nội giấu trong một phòng chứa quần áo, vì bà nội đứa trẻ quá xấu hổ."
"Người phụ tá của ông làm gì với đứa trẻ ấy?"
"Ông ta báo cáo trường hợp cho một viện mồ côi Công giáo và người ta bắt đứa nhỏ ấy đi. Gia đình ấy rất cám ơn; bà mẹ đứa nhỏ là một cô gái xinh đẹp. Đứa bé trông kỳ cục lắm, nhưng người ta làm gì được?"
Vì thế chàng không dám hỏi về Dục Thủy nữa. Chàng ra về sớm, lấy lý do phải viết cho xong bản báo cáo.
Nhưng chàng không muốn đi Karuizawa để nghỉ phép hoặc đi coi chiếu bóng vào buổi tối. Chàng khiêu vũ vài lần trong mùa hạ, không thấy cô gái nào hấp dẫn, và không nhớ ai ở quê nhà. Ngay Monica cũng không gây được cảm giác yêu đương trong lòng chàng. Cuộc đời không còn sức quyến rũ nữa.
Ngay khi chàng tự nói như thế thì chàng biết ngay ở đâu có sự quyến rũ. Chàng cảm thấy người chàng đầy sinh lực khi chàng ở bên Dục Thủy, và vì thế một đêm nóng bức và cô đơn, chàng nằm tưởng nhớ lại từng lần chàng gặp Dục Thủy, đứng dưới cây tử đằng hoa ngày đầu tiên lơ đãng nhìn quanh. Chàng nhớ lại từng hình ảnh của nàng, đặc biệt là lần nàng ngó trộm chàng tại cửa nhà nàng. Hôm đó nàng quá đẹp trong chiếc áo kimono, lần duy nhất chàng trông thấy nàng mặc áo kimono bên trong căn nhà rộng mênh mông với rất ít đồ đạc, với mục đích tạo được vẻ đẹp bằng sự đơn giản. Có lẽ thế giới của nàng là thế giới đẹp nhất, một thế giới của trang trọng và tập tục. Nàng quyết định ở lại bên trong căn nhà ấy. Nàng không chỉ là một người con gái đẹp. Ngay cả khi chàng hôn nàng, vì chàng không cưỡng lại được, chàng cảm thấy nàng cho phép một cách miễn cưỡng, mặc dù nàng cũng yêu thích chàng lắm. Chàng tội nghiệp cho nàng bỡ ngỡ trước tình yêu, và không biết phải đương đầu thế nào với sự bối rối bên trong. Chàng đã phản bội nàng, và câu trả lời duy nhất của chàng là chàng đã bỏ đi trước khi quá trễ.
Nhớ đến nàng, vẽ lại hình ảnh nàng, chàng biết làm như thế thực là điên rồ, bởi vì từng ngày trôi qua, chàng vẫn tiếp tục cô đơn trong mùa hạ, trong khi từng người bạn của chàng bỏ đi ra biển hoặc lên núi nghỉ, và ông bà đại tá bay về nghỉ tại Hoa Kỳ hai tuần. Vào giữa tháng Tám, chàng cảm thấy chàng phải gặp nàng một lần nữa, để tự trắc nghiệm, để chắc rằng chàng có thể quên nàng để một lúc nào có thể kết hôn với một người đàn bà khác. Đúng ra nàng không còn đẹp khi chàng nhớ lại nàng.
° ° °
Mùa hạ cũng rất nóng tại Kyoto, nhưng bác sĩ Sơn Điền không có thì giờ nghĩ đến cái nóng. Không có vẻ vội vàng, ông thực hiện ngay lập tức việc hôn nhân của Dục Thủy. Ông hối tiếc những năm sống tại Hoa Kỳ của ông. bởi vì bây giờ thay vì biết ngay phải làm gì trong tục lệ hôn nhân của Nhật Bản, thì ông phải lật đọc từng trang sách cổ, dò hỏi người khác để biết cách làm thế nào con gái ông có thể kết hôn với con trai của một gia đình giầu sang quý phái. Mặc dù ông rất bận rộn, và mỗi ngày một bận rộn hơn, vì ông là một bác sĩ danh tiếng, nhưng ông tự mình quyết định những loại áo kimono mới của nàng, loại lụa và vải sa tanh thêu. Ông đòi Dục Thủy phải có mặt vì ông không muốn độc đoán, và vợ Ông cũng phải có mặt, cho đúng cách. Tuy họ có mặt, nhưng ông là người làm quyết định cuối cùng cho thích hợp với gia đình Mạc Sầu; ông biết rõ thói quen và phong cách của họ.
Ông cũng không đòi hỏi con gái một sự vâng lời mù quáng như tổ tiên của ông. Nếu nàng muốn, ông sẵn sàng cho nàng gặp Hòa Lang một cách không chính thức, tại nhà ông. Ông không cho phép nàng bị trông thấy đi với chàng ở nơi công cộng, cho tới khi hai người đã kết hôn, nhưng Hòa Lang có thể tới thăm nàng, vào lúc cả cha mẹ nàng có nhà. Như vậy vài lần trước đám cưới dự định vào giữa tháng Chín, Hoà Lang tới thăm Dục Thủy, sau khi thông báo trước ngày giờ thích hợp với gia đình Sơn Điền.
Bác sĩ và bà Sơn Điền bao giờ cũng tiếp chàng. Lần đầu ông bà hiện diện trong suốt buổi viếng thăm. Rồi ông bà thấy Dục Thủy nói quá ít. Nàng chỉ hơi cúi đầu mỗi khi Hòa Lang nói, chỉ lẩm bẩm mấy chữ "Phải" hoặc "Không" trước mỗi câu hỏi của chàng, và nàng không có nhận xét gì thêm.
Đêm đó vào phòng riêng, bác sĩ Sơn Điền hỏi vợ. "Chúng ta có nên để hai đứa ngồi riêng một mình không?"
Bà Sơn Điền đề nghị, "Dẫu sao chúng ta đã từng ở Hoa Kỳ nhiều năm rồi."
Ông bực mình cãi lại. "Bây giờ chúng ta ở Nhật Bản." Ông không muốn bất cứ cái gì giống như bên California. Nhiều lần ông đã nhắc nhở bạn bè và gia đình về việc tập trung người Nhật tại Hoa Kỳ, và ông sẽ tiếp tục nhắc nhở thế, mặc dù những trại tập trung đã đóng cửa và người Nhật lại trải ra khắp nơi ở Hoa Kỳ mà không bị khó khăn gì.
Bà Sơn Điền nói, "Dục Thủy nhớ Hoa Kỳ. Nó có thể lấy làm lạ tại sao nó không thể nói chuyện riêng một mình với người đàn ông nó sắp lấy làm chồng."
Bởi vậy trong lần viếng thăm kế tiếp của Hoà Lang, sau vài phút nói chuyện về thời tiết, viễn ảnh hoa nhài năm nay, bác sĩ Sơn Diền và bà vợ rút lui. Khi hai người đi rồi, Hòa Lang khẽ cười và quay nhìn Dục Thủy với niềm vui hớn hở. chàng nói bằng giọng trầm dịu dàng, "Ba cô thực là đặc biệt."
Dục Thủy hỏi, "Tại sao ba tôi đặc biệt đối với anh?"
"Ba cô Nhật Bản hơn chúng ta, vậy mà ba cô không biết ông có một cái gì không bao giờ có thể là Nhật Bản được, mặc dù cố gắng thế nào. Hoa Kỳ đã đóng dấu ấn vào ông ta rồi."
Dục Thủy trả lời, "Tôi sợ rằng tôi cũng bị đóng dấu ấn nữa."
Hòa Lang đồng ý. "Phải, cả cô nữa, nhưng nếu thế thì tôi lại thích người Mỹ."
Dục Thủy hỏi một cách nghi ngờ. "Ngay cả những người ở đây dưới sự chiếm đóng của quân đội Mỹ cũng bị đóng dấu ấn?"
"Ngay cả người Mỹ cũng vậy. Không phải bao giờ tôi cũng thích những gì họ làm, và thường khi tôi tội nghiệp cho họ. Nhiệm vụ của họ quá lớn."
"Nhiệm vụ của họ là gì?"
Hòa Lang lại cười. “Nhiệm vụ ấy là làm chúng ta thành người Mỹ. Một điều không thể thực hiện được!"
Dục Thủy đề nghị. "Tuy thế họ có thể thay đổi chúng tạ"
Hòa Lang đồng ý. "Phải, một số người chúng tạ"
Dục Thủy hỏi, "Anh nói thế có nghĩa là sau khi người Mỹ đi rồi, mọi thứ lại giống như hồi trước chiến tranh hay sao?"
Hoà Lang trả lời, "Thoạt đầu nó sẽ hơn thế nữa. Chúng ta sẽ cố gắng trở lại với Nhật Bản mãnh liệt hơn nữa, trước hết là tìm cái linh hồn cổ, linh hồn riêng của chúng tạ Rồi sau một vài thế hệ, có lẽ chúng ta thay đổi nữa. Chúng ta sẽ xét lại, chấp nhận một phần cái mà chúng ta bác bỏ. Phải năm mươi năm nữa chúng ta mới biết chúng ta sẽ như thế nào. Vào lúc ấy thì ai biết thế giới sẽ ra sao?"
Dục Thủy lắng nghe. Hòa Lang nói chuyện rất hay, trầm tư mà không có cái vẻ ngạo mạn của cha nàng.
Nàng dò hỏi, "Anh không sợ thế?"
"Tại sao tôi sợ? Tôi thuộc về một gia đình cổ, bảo thủ như cô đã biết. Chúng tôi sẽ thành công trong cái giai đoạn bảo thủ sắp tới. Những người tôi tội nghiệp là hàng ngàn trẻ con hiện đang sống trong các viện mồ côi, bố là người Mỹ, mẹ người Nhật, và do đó trở thành trẻ mồ côi.”
Thực lạ lùng nàng chưa hề nghĩ tới những đứa trẻ này! Nếu nàng cho phép James Peterson, nếu chàng yêu cầu kết hôn với nàng, con của hai người sẽ là những đứa trẻ như thế. Liệu chàng hay nàng có bỏ con cái không? Không, họ không thể làm một việc như thế!
Hòa Lang nói tiếp bằng cái giọng tội nghiệp. "Những đứa trẻ tội nghiệp. Tốt hơn là chúng đừng bao giờ sinh ra đời."
Bỗng nàng ao ước được nói cho Hòa Lang mọi ý nghĩ của nàng. Chàng quá tử tế, và đó là một phần thiện tâm của chàng. Nàng có thể tưởng tượng chàng ngồi nghe với lòng trắc ẩn, ngay cả với lòng thông cảm, chuyện xảy ra giữa nàng và James Peterson. Nàng có nên kể cho chàng biết, vì nàng sẽ là vợ chàng không? Nàng nhìn chàng, không biết rằng ý nghĩ ấy hiện sáng lên mặt nàng.
Chàng mỉm cười. "Cô có chuyện gì thế? Cô muốn hỏi điều gì, phải không?"
Nàng giật mình. "Tại sao anh biết?"
"Mặt cô rất cởi mở. Tôi hầu như đọc được điều cô đang nghĩ."
"Tôi đang suy nghĩ hả?" Nàng lưỡng lự, không biết đây có phải là lúc không, nhưng quả thực nàng nên kể cho chàng biết để không có một bí mật nào giữa hai người.
Chàng gợi ý, "Cô đang tự hỏi tôi là một người như thế nào, phải không?"
Thế là nàng tránh né chàng. "Có phải mọi đàn bà đều hỏi câu ấy?"
"Phải, tôi chắc thế."
Hai người đang quỳ gối kiểu Nhật Bản. Chàng lùi xa nàng đôi chút khiến nàng cảm thấy dễ chịu. Hòa Lang không bao giờ đụng chạm tới người nàng trước khi hai người kết hôn. Tuy thế chàng đã nói với bác sĩ Sơn Điền chàng tin rằng hai người có thể biết nhau bằng cách nói chuyện.
Hòa Lang suy nghĩ, rồi chàng nói, "Tôi tin tôi không phức tạp lắm. Những năm bị bắt buộc làm lính đã làm tôi bây giờ hoàn toàn trái ngược với những gì người ta dậy tôi. Bây giờ tôi không thể giết được bất cứ gì. Cô không nên hy vọng tôi giết ngay cả những con chuột. Tôi để mặc chúng chạy quanh nhà. Tôi đã từng nghe tiếng la hét khàn đặc của các sĩ quan đến nỗi có lúc tôi cảm thấy tôi nên nói nhẹ như một tiếng thì thầm trong suốt đời tôi. Tôi đã chứng kiến nhiều người bị đấm đá trừng phạt chỉ vì một lỗi lầm nhỏ, và vì thế xin đừng nghĩ tôi sẽ có bao giờ đánh đập một đứa trẻ. Tôi đã chứng kiến nhiều cảnh tàn ác đến nỗi tôi chỉ có thể sống bằng lòng nhân hậu của tôi. Người ta có thể cho thế là yếu đuối. Tuy thế trong lúc tôi biết rằng chính tôi có thể kháng cự lại chất độc của sự tàn ác, nó giống như một căn bệnh hiểm nghèo, tôi hy vọng có những người khác như tôi, và một ngày nào đó không còn sự tàn ác nữa."
Nàng chưa bao giờ nghe chàng nói lâu và nghiêm trọng như thế, và nàng biết ơn chàng. Nàng biết rằng chàng làm thế để có thể tự bộc lộ con người chàng, như là bổn phận của chàng đối với nàng. Nhưng chàng không biết trả lời đúng câu hỏi của nàng. Vì lòng nhân hậu, nàng muốn nói cho chàng biết tình yêu của nàng cho một người đàn ông khác, chàng có thể nghĩ rằng nàng thoa? mãn với tình yêu ấy, hoặc ít nhất chàng sẽ rút lui cho đến khi nàng quên người đàn ông ấy, hoặc thay đổi. Chắc chắn nàng sẽ quên và thay đổi. Nàng không muốn chờ đợi. Nàng muốn lấy chồng, bởi vì hôn nhân sẽ làm trí óc nàng bận rộn.
Nàng nói, "Cám ơn anh đã nói với tôi những gì anh vừa nói. Tôi kính trọng anh, anh Hoà Lang Mạc Sầu ạ. Tôi nghĩ lòng nhân hậu là đức tính lớn nhất của con người. Tôi hy vọng tôi cũng là người nhân hậu."
Đến đây nàng tự cho phép nhìn chàng với một cái gì mà nàng cảm thấy như bình minh của tình yêu. Từ nhiều thế kỷ, hôn nhân tại Nhật Bản không có tình yêu. Lòng kính trọng và quý mến nhau là đủ rồi. Ñt nhất, tổ tiên nàng quan niệm như thế.
Chàng đáp lại nàng bằng một cái cúi đầu thân mật. Đến đây chấm dứt lần gặp gỡ thứ hai.
Chương 6
Đứa Con Hai Dòng Máu Chương 6